Đang thực hiện

Ý kiến học viên

OPEC đã tin tưởng và cử 05 nhân viên đi học để nâng cao nghiệp vụ XNK tại LAPRO. Chúng tôi rất hài lòng về chất lượng giảng dạy tại đây.
http://opec.vn
Tất cả những kiến thức chị truyền đạt trở thành những kí ức trong đầu mỗi học viên, như chính mình đang làm nghiệp vụ đó vậy, rất dễ hiểu và ngấm!
 
Đại học Kinh tế Quốc dân
Ngoài kiến thức nghiệp vụ ra thì em rất thích cách truyền đạt và giữ tinh thần cho học sinh, em rất cảm ơn cách chị Ngọc Anh chia sẻ ...
Đại học Kinh tế Quốc dân
Hiện nay bên mình đang có nhu cầu học về nghiệp vụ áp mã HS cho khoảng 8-10 người.
Vậy phiền Lapro tư vấn giúp xem có khóa học nào phù hợp không?
http://www.stanley.com.vn
Sau khi tốt nghiệp tại Lapro, em đã phỏng vấn và trúng tuyển vị trí mua hàng tại công ty Vintes Group: http://vintesgroup.vn/. 
DKT Technology., JSC

Đấu giá quốc tế, đấu thầu quốc tế

I - Đấu giá quốc tế (International Auction)
1. Khái niệm đấu giá:
Là một phương thức giao dịch đặc biệt được tổ chức công khai ở một nơi nhất định, tại đó người bán lợi dụng sự cạnh tranh của những người mua để lựa chọn người mua trả giá cao nhất.
2. Đặc điểm của đấu giá:
+ Hàng hoá bán theo phương thức này thường là những hàng hoá khó tiêu chuẩn hoá (đồ cũ, da lông thú…)
+ Hàng hoá phải có trên thị trường (tại nơi đấu giá) người mua có thể nhìn thấy, sờ thấy và tự lựa chọn.
+ Người mua nhiều, người bán chỉ có một người và người phải cạnh tranh theo điều kiện người bán đặt ra.
+ Đấu giá được tổ chức tại một địa điểm nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng khác.
3. Các loại hình đấu giá quốc tế:
a. Đấu giá có tính thương nghiệp: 
Hàng hoá được mua tại nơi đấu giá sau đó được đem bán lại trên thị trường để lấy lãi, do vậy đại bộ phận những người dự đều là những nhà buôn và hàng hoá thường được phân ra từng loại, từng lô có loại có thể được sơ chế. Khi mua người mua bao giờ cũng phải có phương án giá và người bán phải bằng cách tác động để người mua phải trả giá cao hơn dự kiến, phải biết nghệ thuật nài kéo…
b. Đấu giá phi thương nghiệp: 
Người dự đấu giá thường mua hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân, không có mục đích mua rồi để bán lại kiếm lời và hàng hoá thường có sao bán vậy. Do vậy người bán cũng phải biết nghệ thuật khéo léo để tạo sự cạnh tranh giữa những người mua và cuối cùng bán cho người nào trả giá cao nhất, làm cho người mua sẵn sàng trả giá cao hơn giá họ dự kiến.
Thực tế có những trường hợp do cạnh tranh giữa những người mua mà người bán đã bán được những hàng hoá tưởng như vô giá trị với những giá rất cao. Sử dụng hình thức đấu giá này thường nhằm những mục đích như: Thanh lý vật vô thừa nhận, giải quyết hàng tồn kho, thanh lý công ty phá sản…
4. Quy trình đấu giá:
a. Chuẩn bị đấu giá:
+ Thông báo: Đăng quảng cáo về ngày, giờ, địa điểm tiến hành, số lượng mặt hàng đấu giá, thể lệ đấu giá, trong công tác này người bán phải làm thế nào để người mua không có đủ thời gian liên kết với nhau tìm cách giảm giá.
+ Chuẩn bị hàng hoá: Đưa hàng hoá tới kho của tổ chức đấu giá, sau đó phân chia thành từng lô căn cứ vào chất lượng, kích cỡ của chúng, đánh số từng lô sau đó lấy mẫu hàng hoá. Ký hợp đồng uỷ thác với các tổ chức đấu giá (có thể là uỷ ban nhân dân, toà thị chính, công ty… …)
+ Xây dựng thể lệ đấu giá: Thường quy định người mua phải xem hàng trước( người bán không chịu trách nhiệm về phẩm chất hàng hoá), quy định về khoản tiền ký quỹ trước khi tham dự đấu giá, về mức mặc cả đặt giá.
b. Trưng bày hàng hoá được đấu giá:
Tổ chức cho người mua xem hàng, trong thời gian này nếu không xem mà mua phải hàng không theo ý muốn thì không có quyền khiếu nại về chất lượng hàng hoá. Có nhiều cách tổ chức cho người mua xem hàng:
+ Xem qua mẫu,
+ Xem thực tế: có thể xem xét trực tiếp, cho chạy thử…
+ Xem qua ảnh: Một số hàng nhỏ giá trị cao, dễ mất người ta hay chụp ảnh để giới thiệu.
c. Tiến hành mở đấu giá:
Nơi bán đấu giá thường có hình thức của một hội trường. Trên bục cao, nhân viên đấu giá (autionor) điều khiển cuộc đấu giá với tư cách đại diện cho bên bán. Tuỳ theo khả năng để chọn phương thức thích hợp mà bán được giá cao nhất.
d. Phương thức đấu giá:
+ Phương thức có tiếng nói:
- Giảm giá dần: Người tổ chức định giá cao để người mua giảm dần, hoặc người bán giảm dần nếu người mua không mua và không trả giá.
- Tăng giá dần: Người tổ chức quy định giá sàn, người mua trả giá tăng dần, không hạn chế tầm cao, cách này thường áp dụng khi bánnhững hàng hoá phi thương nghiệp, do sự cạnh tranh của những người mua, nhiều khi bán được hàng với giá rất cao.
+ Phương pháp không tiếng nói.
- Gửi thư kín: Mọi người trả giá ghi vào phong bì giá mình đề nghị bỏ vào thùng thư như khi đi bầu cử.
- Giơ tay: Ghi giá chuyển cho ban tổ chức, hoặc bấm nút máy tính điện tử.
e. Ký hợp đồng và giao hàng:
Người thắng là người trả giá cao nhất, đến ban tổ chức ký hợp đồng theo mẫu và trả một phần tiền hàng, có nghĩa là phải đặt cọc (bid) tiền đảm bảo thực hiện hợp đồng và mức đặt cọc là bao nhiêu thì người tổ chức phải quy định. Những căn cứ xác định bid:
- Chi phí mở đấu giá lại: Quảng cáo, thuê địa điểm
- Khoản lãi suất: Khi hàng hoá chưa bán được thì vốn còn đọng thường là vốn đi vay cho nên phải căn cứ vào lãi suất vay.
- Chi phí lưu kho:
Sau một thời gian khoảng 3 đến 4 ngày, người mua phải trả nốt tiền và nhận hàng.
II - Đấu thầu quốc tế (International Tender)
1. Khái niệm đấu thầu:
Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó người mua (tức là người gọi thầu) công bố trước điều kiện mua hàng để người bán (tức người dự thầu) báo giá mình muốn bán sau đó người mua sẽ chọn mua của người báo giá rẻ nhất và có điều kiện tín dụng phù hợp hơn cả với những điều kiện đã nêu. Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sẵm và thi công các công trình của nhà nước, nhất là tại các nước đang phát triển.
2. Các loại hình đấu thầu quốc tế:
a. Nếu chia theo đối tượng đấu thầu:
+ Đấu thầu cung cấp hàng hoá
+ Đấu thầu cung cấp dịch vụ
+ Đấu thầu xây dựng công trình
+ Đấu thầu dự án
b. Nếu căn cứ lượng người tham gia:
+ Đấu thầu mở rộng (open tender)
+ Đấu thầu hạn chế (limited tender)
+ Chỉ định thầu (đấu thầu riêng lẻ)
c. Căn cứ vào phương thức thực hiện:
+ Đấu thầu 1 giai đoạn:
* Theo kiểu một phong bì, gồm:
Khi bóc phong bì phải xét kỹ điều kiện kỹ thuật và điều kiện giá cả, làm công tác này rất mất thời gian và tốn kém tiền bạc. Phương thức này được áp dụng đối với đấu thầu mua bán hàng hoá và xây lắp.
* Theo kiểu hai phong bì: Là phương thức nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về giá trong từng phong bì hồ sơ riêng vào cùng thời điểm. Phong bì hồ sơ kỹ thuật sẽ được bóc để xem xét trước và đánh giá. Các nhà thầu đạt điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp phong bì hồ sơ thứ hai (đề xuất về giá) để đánh giá. Phương thức này thường được áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn.
+ Đấu thầu 2 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ, gồm đề xuất về kỹ thuật và phương án tài chính (chưa có giá) để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể với từng nhà thầu, nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu chính thức của mình.
* Giai đoạn 2: Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai đoạn thứ nhất nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt bằng kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng, giá dự thầu.
d. Nếu căn cứ hợp đồng có thể chia:
+ Hợp đồng khoán gọn: Không có điều chỉnh giá
+ Hợp đồng có điều chỉnh giá: Tuỳ theo sự biến động của các yếu tố đầu vào để điều chỉnh.
+ Hợp đồng kiểu chìa khoá trao tay (turn – key): Theo hợp đồng loại này có thể trao tay toàn phần, có thể từng phần
3. Nguyên tắc và phương châm tiến hành:
Mỗi tổ chức quốc tế đều đề ra cho mình một nguyên tắc riêng về đấu thầu.
- Theo hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC) thì đấu thầu phải:
+ Cạnh tranh với điều kiện ngang nhau, dữ liệu được cung cấp đầy đủ.
+ Đánh giá công bằng, trách nhiệm phân minh.
- Theo ngân hàng phát triển châu Á (ADB) thì:
+ Có nguồn gốc rõ ràng
+ Đạt tính kinh tế và tính hiệu quả
+ Các bên tham gia phải có đầy đủ cơ hội, công bằng và bình đẳng
- Tại Việt nam:
+ Công bằng và minh bạch
+ Chọn nhà thầu phù hợp đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án (quy chế đấu thầu 1999 của chính phủ)
4. Cách thức tiến hành:
Theo hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC) tiến hành đấu thầu theo 03 giai đoạn.
a. Giai đoạn 1: Sơ tuyển 
Sơ tuyển áp dụng đối với đấu thầu mở rộng. Xác định các chỉ tiêu chủ yếu của công trình.
Thông báo cho những người có khả năng dự thầu, tuỳ theo loại hình đấu thầu mà thông báo trên các báo chí tập san hoặc gửi thư riêng đến các hãng kinh doanh, nhiệm vụ của ban tổ chức là chọn thời điểm và phương thức hợp lý sao cho những người dự thầu có đủ thời gian chuẩn bị và nghiên cứu mà không thể có đủ thời gian để liên kết với nhau để lũng đoạn giá.
Nội dung thông báo phải nêu rõ các yêu cầu của công trình và những địa chỉ liên hệ cần thiết. Trên cơ sở thông báo, người dự thầu phải làm.
- Đơn dự thầu: Kèm theo một loạt các văn bản có liên quan (văn bản tài chính cần thiết, văn bản chứng minh khả năng kỹ thuật – có bao nhiêu công trình sư, có bao nhiêu kỹ sư .v.v.)
- Các văn bản xác nhận uy tín
- Các giấy tờ chứng minh khả năng cung cấp vốn (nếu công trình xây dựng bằng vốn ODA phải có vốn đối ứng).
Luật Việt Nam quy định: Khi thực hiện công trình ở Việt Nam các nhà thầu nước ngoài phải liên doanh với một pháp nhân Việt Nam, do vậy cần phải có thêm các văn bản xác nhận liên doanh liên kết. Ngoài ra các nhà thầu phải có khả năng cung cấp 65% số vốn, do vậy phải có văn bản chứng minh khả năng tài chính.
Trên cơ sở các giấy tờ (hồ sơ) người gọi thầu sẽ tiến hành sơ tuyển. Những người dự thầu được mời đến dự sơ tuyển. Họ nhận được các tài liệu sơ tuyển để kê khai, và ban tổ chức (người gọi thầu) xem xét, phân tích các văn bản mà họ đã nộp và chọn người dự thầu. Đây là một công việc rất quan trọng, cần phải tiến hành thận trọng nếu chọn người không đúng rất dễ hỏng việc hoặc có những công trình kém chất lượng.
Sau khi sơ tuyển ban tổ chức lập short list và gọi mời những người trong short list đến dự thầu. Trên thế giới danh sách short list thường chỉ có 7-8 người, còn ở Việt Nam có khi có đến trên 30 người và chí có trường hợp lên đến 100 người.
b. Giai đoạn 2: Mời thầu
Giai đoạn này trước hết là phải xây dựng bản điều lệ đấu thầu (biding documents) trong đó nêu rõ những mặt hàng và dịch vụ là đốitượng đấu thầu.
+ Tiến hành làm hồ sơ mời thầu. Trong quá trình làm hồ sơ mời thầu có khi cần cả dịch vụ tư vấn để tư vấn về các vấn đề tài chính, kỹ thuật đây là một việc rất khó khăn và tốn kém.
+ Tiến hành cung cấp hồ sơ mời thầu cho những người trong danh sách. Hồ sơ được bán cho những dự thầu ở nước ngoài giá dao động từ 30 đến 50 USD, đây là khoản phí không hoàn lại. Nhưng ở Việt Nam giá này thường cao hơn rất nhiều do vậy các nhà thầu nước ngoài phản đối rất mạnh. Công việc chuẩn bị hồ sơ rất tốn kém, phải in ấn nhiều, phải khảo sát kỹ thuật v.v.
+ Tổ chức cho những người dự thầu đi thăm thực địa, nơi xây dựng công trình để họ tính toán cho việc thi công về sau.
+ Tiến hành giải đáp những thắc mắc của người dự thầu.
+ Thu nhận báo giá: Căn cứ vào đơn chào hàng cùng với giấy chứng nhận đặt cọc lần 1, thường thì có giá trị từ 1% đến 5%, nhưng ở Việt Nam lại quy định từ 1 đến 3%. Số tiền này phải trả lại cho người không trúng thầu. Tiền đặt cọc có thể quy định bằng một số tiền nhất định. Về nguyên tắc khi nhận giấy báo giá (offer) ban tổ chức phải giữ kín, kể cả tiền ký quỹ thầu (bid bond).
Vào ngày giờ đã định cuộc đấu thầu được khai mạc tại địa điểm quy định, với sự có mặt của những người dự thầu. Ban tổ chức lúc này mới được mở các phong bì công bố công khai nội dung các báo giá và yêu cầu người tham gia ký vào văn bản xác nhận. Ban tổ chức thường không công bố kết quả ngay mà công bố sau đó một thời gian.
c. Giai đoạn 3Mở thầu
Giai đoạn này là giai đoạn đánh giá, lựa chọn người trúng thầu ký hợp đồng. Thời gian từ 3 tháng đến 6 tháng. Đây là giai đoạn có nhiều phức tạp, các bên dự thầu chạy đua đưa ra các điều kiện ưu đãi cạnh tranh nhau, bằng mọi biện pháp để thắng thầu, họ không ngần ngại gì khi sử dụng các biện pháp tiêu cực.
Ban tổ chức phải so sánh và đánh giá các báo giá (bid valuation) để đánh giá người ta hay đưa về một cơ sở thống nhất. Ơ Việt Nam thường dùng thang điểm cho các phần, ví dụ: về phần giá được bao nhiêu điểm, về phần kỹ thuật được bao nhiêu điểm, thang điểm càng cao càng chính xác.
Lập hồ sơ xét thầu: Hồ sơ được đưa lên hội đồng xét thầu và thành phần hội đồng tuỳ theo công trình: Nguyên tắc lựa chọn:
+ Giá thấp
+ Chọn người có điểm cao nhất
+ Những người có điều kiện thuận lợi nhất.
Vấn đề này cũng rất phức tạp và có nhiều tiêu cực. Thông thường người cấp vốn là người thắng thầu.
Hội đồng chỉ công bố người thắng và không giải thích lý do không thắng. Ai có thắc mắc sẽ được tiếp riêng và được giả thích trực tiếp. Khả năng thắng thầu phụ thuộc rất nhiều yếu tố, kể cả những yếu tố tiêu cực.
5. Đàm phán ký kết hợp đồng:
Ngay sau khi thông báo kết quả đánh giá người trúng thầu ký kết hợp đồng với ban tổ chức và nộp tiền bảo đảm thực hiện hợp đồng (performance bond), theo quy định của bản điều lệ. Những người không trúng lấy lại số tiền đã ký quỹ dự thầu.
Thường là ký các hợp đồng soạn sẵn (hợp đồng mẫu). Thông lệ Việt Nam và thế giới không giống nhau.
Việt nam: Có lệ mặc cả trong khi đàm phán ký kết hợp đồng cho nên trong khi báo giá họ hay nâng giá vì trong quá trình đàm phán có thể hạ được giá xuống, nhưng với nước ngoài thì giá trong chào hàng là không đổi, đàm phán chỉ để chi tiết hóa hoặc cụ thể hoá các công việc đã được đem ra đấu thầu.
Qua đàm phán xây dựng nội dung hợp đồng, và người thắng sẽ đặt cọc lần hai, như trên đã nói và giá trị của lần đặt cọc này từ 10 đến 15 % giá trị hợp đồng.
  

Đăng ký học thử miễn phí

(Chương trình dành cho các bạn muốn học tập tại Lapro)

 
 
 
 

( Dành cho buổi học thử )

( Nếu sẽ đăng ký học chính thức )

 
LAPRO 1: Số 313 Định Công – Hoàng Mai – Hà Nội LAPRO 2: Tầng 05 – Số 94 Phương Liệt – Thanh Xuân – Hà Nội  0919 27 6887 - 0985 450 254  (24/24)
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO XUẤT NHẬP KHẨU LAPRO.    Thiết kế web bởi Web123.vn